Thuốc dòi

thuocdoi2

 

Thuốc dòi, Đại kích biển – Euphorbia atoto Forst. f., thuộc họ Thần dầu – Euphorbiaceae.
Mô tả: Cây thảo trải ra, sống lâu nhờ gốc rễ. Thân nhiều, phân nhánh, bắt nguồn từ cổ của rễ, nằm dưới đất, nhẵn, dạng sợi, dễ gãy. Lá hình trái xoan, gần như không cuống, tròn ở đầu, hình thon không đều ở gốc, rất nhẵn, dài 7-30mm, rộng 5-20mm. Cụm hoa ở ngọn ít hoa, kèm theo lá tiêu giảm. Quả nang, nhẵn. Hạt nhiều, màu hung, nhẵn, đường kính 1mm.
Có quả tháng 7-11.
Bộ phận dùng: Nhựa và toàn cây – Latex et Herba Euphorbiae Atotinis.
Nơi sống và thu hái: phân bổ rộng rãi ở Ấn Độ, Nam Trung Quốc, các nước Đông Dương. Malaixia, Philippin, Inđônêxia tới châu Đại dương ở Úc châu. Cũng thường gặp ở các bãi cát ven biển khắp nước ta.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Nhựa chế biến một cách riêng, chưng cách Thủy với mật ong dùng chữa ho lao.
Ở Tân Đảo (Nouvelle Calédonie), cả cây ngâm nước và vò ra làm thành một thứ thuốc xổ tẩy thường được dùng. Các phụ nữ ở đây dùng nó như thuốc điều kinh và cả để gây sẩy thai.

Cây thuốc dòi
Có tên khác là cây Bọ mắm, tên khoa học là Pouzolzia Acylanica, là loại cỏ thân mềm, thân cây có lông. Lá mọc so le, có khi mọc đối có lá kèm, hình mác, hẹp, trên gân và 2 mặt đều có lông nhất là ở mặt dưới; lá dài 4 – 9cm, rộng 1,5- 2,5cm có 3 gân xuất phát từ cuống, cuống dài 5mm có lông trắng. Hoa tự đơn tính mọc thành tim co. Quả hình trứng nhọn, có bao hoa có lông. Toàn cây, lá có thể dùng làm thuốc. Theo y học cổ truyền, kinh nghiệm sử dụng cây thuốc dòi trong nhân dân bằng cách sắc uống hay nấu thành cao dùng để chữa bệnh ho lâu năm, ho lao, viêm họng; làm thuốc mát và thông tiểu, thông sữa.

Liều dùng: 10 – 20g dạng thuốc sắc.